So sánh giữa EOS và Ethereum: Những khác biệt giữa hai nền tảng

So sánh giữa EOS và Ethereum: Những khác biệt giữa hai nền tảng

Trong nhiều năm, Ethereum đã thống trị thị trường hợp đồng thông minh. Các nét đặc trưng và chức năng của nó đã đi trước thời đại và không có nền tảng nào khác có thể trở thành đối thủ ngang sức với nó.

Vâng, không có nhưng ít nhất là cho đến khi EOS ra mắt. Mặc dù Ethereum đã chiếm ưu thế với những hợp đồng thông minh hiện nay, nhưng có vẻ như EOS đang định nghĩa lại chúng.

EOS hứa hẹn đem lại những phát triển quan trọng mà Ethereum đang bị thử thách và sở hữu các tính năng mới để thực hiện một giao thức tốt hơn. Phần lớn những thiếu sót của Ethereum đến từ tốc độ chậm của mạng lưới và vấn đề về khả năng mở rộng.

Bảo mật, phân quyền và khả năng mở rộng

Đây là ba thuộc tính khiến cho hai nền tảng ứng dụng phi tập trung (Dapp) trở nên khác biệt nhau. Cách tiếp cận của chúng đối với khả năng mở rộng, phân quyền, và bảo mật là những yếu tố để người dùng xác định nên lựa chọn nền tảng nào và cũng là những yếu tố giúp cả hai trở thành hai trong số các đồng tiền điện tử cạnh tranh nhất.

Tính bảo mật

Tính bảo mật của một Blockchain đề cập đến khả năng chống lại các cuộc tấn công của mạng lưới. Nói đến vấn đề bảo mật thì EOS đã từng gặp sự cố khi toàn bộ mainnet EOS đột ngột bị đóng băng chỉ 2 ngày sau khi chính thức lên sóng.

Nền tảng này cũng có rất nhiều lỗ hổng tạo điều kiện thuận lợi cho mạng lưới bị tấn công. Song, dù sao thì dự án này vẫn còn đang phát triển và sẽ mất nhiều thời gian hơn để ổn định và an toàn như Ethereum – một nền tảng đã tồn tại trước đó nhiều năm.

Ethereum đã dành sự ưu tiên cho vấn đề bảo mật và nó là một trong số ít các dự án chưa chịu tổn thất từ một vụ bê bối an ninh nào. Ngược lại, EOS dường như đã hy sinh tính bảo mật để đổi lấy tốc độ và khả năng mở rộng.

Sự phân quyền

EOS dường như đã thể hiện tốt hơn Ethereum trong một vài khía cạnh nhưng có một lý do có thể đánh bại toàn bộ mục đích tồn tại của nó, đó chính là sự tập trung. EOS tập trung bởi vì các phần thưởng đào của nó được trao cho 21 node trung thực hàng đầu.

Không giống như Bitcoin và Ethereum, nơi bất cứ ai cũng có thể đào coin và được thưởng, EOS lại có một cách tiếp cận khác. Người dùng EOS sẽ bỏ phiếu về tính xác thực của một khối và 21 node trung thực hàng đầu sẽ tạo ra các node mới. Điều này làm cho quá trình tập trung đến 21 người chơi trên mạng lưới.

Cũng có người nói rằng Ethereum tập trung như EOS bởi nó được kiểm soát bởi một vài pool đào điều khiển gần một nửa mạng lưới. Tuy nhiên, chúng không hoàn toàn giống nhau. Ethereum sử dụng mô hình Proof of Work (PoW) trong khi EOS sử dụng mô hình thuật toán mới gọi là Delegated-Proof-of-Stake (DPoS).

Khả năng mở rộng

Đây là một trong những vấn đề đáng lo ngại nhất đối với Ethereum. Chính Vitalik Buterin, nhà sáng lập Ethereum, cũng đã thừa nhận rằng đây là một vấn đề của mạng lưới và hứa hẹn sẽ tiếp tục tìm cách cải thiện nó.

Khả năng mở rộng xoay quanh số lượng giao dịch mà mạng lưới có thể thực hiện tại một thời điểm. Đối với Ethereum, con số này quá thấp và chậm. Hiện tại, mạng Ethereum chỉ xử lý được 15 giao dịch mỗi giây (TPS), và điều này đã bị chỉ trích vì các công ty như Visa có khả năng thực hiện tới 50.000 TPS.

Về phần mình, EOS đã tìm được cách để giải quyết vấn đề với khả năng mở rộng. Mạng Blockchain này tự hào rằng nó có thể xử lý tối đa được 1.000 giao dịch mỗi giây. Nhóm nghiên cứu phía sau EOS vẫn đang có kế hoạch cải thiện điều này, nhằm tăng lên hàng triệu giao dịch mỗi giây.

Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, 1.000 TPS so với 15 TPS cũng đã là một sự chênh lệch lớn. Khả năng mở rộng của nó cũng làm tăng hiệu quả về khả năng sử dụng vì EOS rẻ hơn và nhanh hơn Ethereum.

Tuy nhiên, cái giá phải trả cho khả năng mở rộng này khá lớn. Đó là, EOS tập trung hơn Ethereum. Ethereum phân quyền và đó là điều chạm đến trái tim người hâm mộ của Ethereum. Mặc khác, EOS tập trung hơn và mạng lưới này thậm chí đã từng đóng băng tài khoản người dùng.

Những khác biệt lớn khác

  • Phí giao dịch: Mặc dù EOS yêu cầu bạn phải đặt cọc trước khi thực hiện Dapp, nhưng chúng sẽ được hoàn trả ngay lập tức sau khi thực hiện. Mặt khác, Ethereum yêu cầu người dùng phải trả phí Gas khi thực hiện các hợp đồng thông minh. Điều này đã thúc đẩy nhiều dự án hơn hướng tới mạng lưới EOS trong thời gian gần đây.
  • Khởi chạy ICO: EOS ghi dấu trong lịch sử như là đợt ICO lớn nhất từ trước đến nay sau khi đã thu về hơn 4 tỷ USD. Điều này phần nào cho thấy các nhà đầu tư rất có niềm tin vào dự án. Quay trở lại năm 2015, Ethereum chỉ huy động được 18.4 triệu USD nhưng điều quan trọng cần chỉ ra là nó hỗ trợ cho các hợp đồng thông minh chưa từng được biết đến.

Kết luận

Ethereum là ổn định và hoạt động phù hợp với những niềm tin cơ bản của công nghệ Blockchain, tuy nhiên, nó cần phải cải thiện về khả năng mở rộng của nó hoặc nếu không nó sẽ không còn quan trọng cho dù EOS có tập trung hay phân quyền.

Hiệu quả sẽ xuất hiện trước mọi thứ khác. Ethereum có thể có một cộng đồng ủng hộ hay một số lượng fan lớn hơn và trung thành hơn so với EOS, nhưng nếu không có một số thay đổi cơ bản, EOS chắc chắn sẽ vượt qua những con số đó.

BÌNH LUẬN

DISQUS: 0